Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Phương pháp bàn tay nặn bột.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:59' 16-04-2014
Dung lượng: 205.1 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Trần Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:59' 16-04-2014
Dung lượng: 205.1 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO LÂM ĐỒNG
PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO DI LINH
TẬP HUẤN
PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”
Di Linh, ngày 23 tháng 1 năm 2014
I. Giới thiệu về Phương pháp Bàn tay nặn bột
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” (BTNB), tiếng Pháp là “La main à la pâte” - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là “Hands-on” là một phương pháp giáo dục tích cực, là một chiến lược về GD khoa học do Giáo sư người Pháp Georges Charpak (người đoạt Giải Nobel Vật lý năm 1992) sáng tạo cho phép đáp ứng những yêu cầu dạy học mới.
PP BTNB đã được vận dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Pháp mà còn ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có các nước ở khu vực Đông Nam Á.
Ở nước ta, BTNB được GS Trần Thanh Vân và tổ chức Gặp gỡ Việt Nam tổ chức giới thiệu hơn 10 năm qua.
Bộ GD&ĐT triển khai thử nghiệm từ năm 2011 và chính thức triển khai đại trà ở cấp Tiểu học và THCS từ năm học 2013 - 2014.
II. Thế nào là phương pháp “ Bàn tay nặn bột”?
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên. Thực hiện phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên. Trong đó học sinh được đặt vào vị trí của một nhà nghiên cứu, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.
II. Mục tiêu của PP “BTNB”
Phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp bàn tay nặn bột còn chú ý đến rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
III. Một số PP tiến hành thực nghiệm tìm tòi
nghiên cứu
1. PP quan sát:
* Quan sát là:
- Tìm câu trả lời cho câu hỏi đặt ra;
- Nhận thức bằng tất cả các giác quan;
- Tổ chức sự nghiên cứu một cách chặt chẽ và có phương pháp;
- Xác lập các mối quan hệ bằng cách so sánh với các mô hình, những hiểu biết và các đối tượng khác.
* Quan sát giúp HS phát triển các khả năng:
- Chặt chẽ trong nhìn nhận;
- Tò mò trước một sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh;
- Khách quan;
- Tinh thần phê bình;
- Nhận biết;
- So sánh;
- Chọn lọc những điểm chủ yếu, quan trọng và đặc trưng của sự
vật hiện tượng.
2. PP thí nghiệm trực tiếp: (PP TNTT)
- Đây là PP được khuyến khích thực hiện trong bước tiến hành thí nghiệm tìm tòi, nghiên cứu theo PP “BTNB”.
- PP TNTT được thực hiện đối với các kiến thức cần làm thí nghiệm để chứng minh. Các thí nghiệm do chính HS thực hiện. GV tuyệt đối không được thực hiện thí nghiệm biểu diễn như đối với các PP dạy học khác.
- Thí nghiệm trong PP “BTNB” được thực hiện để kiểm chứng một giả thuyết đặt ra chứ không phải là để khẳng định lại một kiến thức. VD: để kiểm tra giả thuyết: “Có phải không khí cần cho sự cháy không?” HS làm thí nghiệm úp cốc thuỷ tinh lên ngọn nến đang cháy để kiểm chứng.
3. PP làm mô hình:
- PP làm mô hình thường được tiến hành theo nhóm vì HS cần thảo luận với nhau để làm mô hình hợp lí.
- Mô hình đối với HS tiểu học chỉ nên thực hiện đơn giản nhằm làm rõ một kiến thức nhất định.
- Để tiết kiệm thời gian GV có thể chuẩn bị trước một mô hình đúng để trình bày cho HS so sánh trong trường hợp không có nhóm nào làm đúng. Trong trường hợp này GV cần giấu mô hình không cho HS nhìn thấy trước khi đưa ra trưng bày.
4. PP nghiên cứu tài liệu:
Khi cho HS tiến hành PP này, GV giúp HS xác định được:
Động cơ đọc tài liệu: tìm hiểu tổng quát, tìm hiểu chuyên sâu, tìm một định nghĩa, …
Vấn đề nào cần quan tâm.
Những thắc mắc đang cần tìm câu trả lời.
Kiểu thông tin nào đang cần có.
Vị trí cần đọc, nghiên cứu trong tài liệu.
10 NGUYÊN TẮC CỦA PHƯƠNG PHÁP BTNB
1. Treû em quan saùt moät söï vaät hay moät hieän töôïng cuûa theá giôùi thöïc taïi, gaàn guõi vôùi chuùng vaø deã caûm nhaän vaø chuùng thöïc haønh treân nhöõng caùi ñoù.
2. Trong quaù trình tìm hieåu, treû laäp luaän, baûo veä yù kieán cuûa mình, ñöa ra taäp theå thaûo luaän nhöõng yù nghó vaø nhöõng keát luaän cuûa mình, töø ñoù coù nhöõng hieåu bieát maø chæ hoaït ñoäng, thao taùc rieâng leû khoâng ñuû taïo neân.
3. Những hoạt động của giáo viên đề xuất cho học sinh nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và giành cho học sinh việc tự chủ khá lớn.
4. Cần một thời lượng tối thiểu là 2 giờ / tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập.
5. Trẻ có mỗi em một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ chính các em.
6. Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành , kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ nói và viết.
7. Các gia đình, khu phố nơi các em sinh sống khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học.
8. Ở địa phương các đối tác khoa học ( Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu…) giúp hoạt động của lớp theo khả năng của mình.
9. Ở địa phương, các Viện đào tạo giáo viên giúp các giáo viên kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy.
10. Giáo viên có thể tìm thấy trên Internet những mô đun (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải đáp thắc mắc. Họ cũng có thể tham gia những hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, các nhà sư phạm và các nhà khoa học. GV là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.
Cc bu?c c?a gi? h?c theo PP "Bàn tay nặn bột"
Bước 1: Đưa ra tình huống có vấn đề và xác định vấn đề cần giải quyết:
- Tình hu?ng xu?t pht hay tình hu?ng nu v?n d? l m?t tình hu?ng do gio vin ch? d?ng dua ra nhu l m?t cch h?p d?n nh?p vo bi h?c.
- Tình hu?ng xu?t pht ph?i ng?n g?n, g?n gui d? hi?u d?i v?i HS; nh?m l?ng ghp cu h?i nu v?n d?.
- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học; cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.
- GV dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề.
Bước 2: Bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh:
- Làm bộc lộ quan điểm hay biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của HS là
bước quan trọng đặc trưng của PPBTNB.
- Trong bước này, GV khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật hiện tượng mới (kiến thức mới) trước khi học được kiến thức đó. Khi yêu cầu HS trình bày quan niệm ban đầu, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiệnsuy nghĩ.
Bước 3: D? xu?t cu h?i hay gi? thuy?t v thi?t k? phuong n th?c hi?n:
D? xu?t cu h?i: T? nh?ng khc bi?t v phong ph v? bi?u tu?ng ban d?u c?a HS, GV gip HS d? xu?t cu h?i t? nh?ng khc bi?t dĩ.
Ch xốy su vo nh?ng s? khc bi?t lin quan d?n ki?n th?c tr?ng tm c?a bi h?c.
Đây là một bước khá khó khăn vì GV cần phải chọn lựa các biểu tượng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu tượng của HS một cách nhanh chóng theo mục đích dạy
học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của HS nhằm giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạy học.
- Sau khi chọn lọc các biểu tượng ban đầu của HS để ghi chép (đối với mô tả bằng lời) hoặc gắn hình vẽ lên bảng hoặc vẽ nhanh lên bảng (đối với hình vẽ), GV cần khéo léo gợi ý cho HS so sánh các điểm giống (đồng thuận giữa các ý kiến) hoặc khác nhau (không nhất trí giữa các ý kiến) các biểu tượng ban đầu.
-Từ những sự khác nhau cơ bản đó GV giúp HS đề xuất các câu hỏi. Sau khi giúp HS so sánh và gợi ý để HS phân nhóm các ý kiến ban đầu, GV hướng dẫn HS đặt các câu hỏi nghi vấn.
Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:
Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS đề nghị các em đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi có thể là: “Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra?”…
Sau khi HS đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.
Lưu ý rằng phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu ở đây được hiểu là các phương án để tìm ra câu trả lời. Có nhiều PP như quan sát, TH thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu, …
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi- nghiên cứu:
- Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu mà HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm thích hợp để HS tiến hành nghiên cứu.
- Khi tiến hành thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành. Sau đó GV phát cho HS các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với các hoạt động.
- Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, GV nên dừng lại để HS rút ra kết luận. GV lưu ý HS ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành.
Bước 5: Kết hợp và hợp thức hóa kiến thức.
- Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.
GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của HS cho kết luận sau khi thực nghiệm.
Vai trò của người giáo viên:
GV là người hướng dẫn:
- Đề ra những tình huống, những thử thách.
- Định hướng các hoạt động.
- Thu hẹp những cái có thể.
- Chỉ ra, thông tin.
GV là người trung gian:
- Là nhà trung gian giữa "thế giới" khoa học
và h?c sinh.
- Là người đàm phán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan với những câu hỏi được xử lí, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hình giải thích hợp lí.
- Đảm bảo sự dốn trước và giải quyết các xung đột nhận thức.
- Hành động bên cạnh với mỗi học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp.
Vai trò của học sinh trong giờ học với PPBTNB:
- HS quan sát một hiện tượng của thế giới thực tại và gần gũi với chúng về đề tài mà từ đó chúng sẽ hình thành các nghi vấn.
- HS tìm tòi, suy nghĩ và đề ra những bước đi cụ thể của thực nghiệm, hoặc chỉnh lí lại những caí thất bại nhờ tra cứu tư liệu.
- HS trao đổi và lập luận trong qu trình hoạt động, chúng chia sẻ với nhau những ý tưởng của mình, cọ sát những quan điểm của nhau và hình thành những kết luận tạm thời hoặc cuối cùng bằng ghi chép, biết phát biểu.
Vai trò của vở thực nghiệm:
Vở thực nghiệm không áp đặt cách ghi nhưng có mẫu sẽ thuận tiện cho các em trong việc ghi chép và đỡ mất thời gian của tiết h?c.
Có nhiều cách để ghi: có thể các em sẽ ghi bằng văn bản, bằng hình vẽ hoặc b?ng sơ đồ.
Những điều lưu ý:
Thực hiện dạy học theo phương pháp BTNB có nhiều hoạt động nhóm.
Sắp xếp lại bàn ghế theo nhóm cố định.
Giáo viên phải tạo được không khí lớp học vui vẻ, thoải mái, thích thú cho học sinh trong học tập.
Giúp học sinh bộc lộ quan điểm ban đầu:
- Quan điểm ban đầu của HS có thể sai hoặc chưa chính xác về mặt khoa học.
Khuyến khích HS trình bày ý kiến không nên có nhận xét đúng - sai sau khi học sinh trình bày.
Biểu tượng ban đầu càng đa dạng, phong phú, càng sai lệch với ý kiến đúng thì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho học sinh.
Đặt câu hỏi:
Có 2 loại câu hỏi chính: nêu vấn đề và câu hỏi gợi ý.
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học.
Các câu hỏi gợi ý được giáo viên đặt ra và sử dụng trong qua trình làm việc với học sinh nhằm gợi ý, định hướng cho các em rõ hơn hoặc kích thích một suy nghĩ mới của học sinh.
Hướng dẫn học sinh phân tích thông tin, hiện tượng quan sát khi nghiên cứu:
- Chú ý đến các thông tin chính để rút ra kết luận tương ứng với câu hỏi;
- Bám vào mục đích thí nghiệm để làm gì, trả lời câu hỏi nào...
- Đối với các thí nghiệm cần đo đạc, lấy số liệu, học sinh cần ghi chép lại các số liệu để từ đó rút ra nhận xét. Tôt nhất, giáo viên nên chuẩn bị mẫu ghi chú kết quả thí nghiệm và phát cho học sinh lúc bắt đầu làm thí nghiệm.
Những điều lưu ý( TT):
- Thực hiện phương pháp này không thể nóng vội, cần thực hiện từng bước để tạo thói quen cho học sinh lúc đó việc dạy học với PP BTNB sẽ dễ dàng và đem lại hiệu quả cao.
- Tất cả các câu hỏi của học sinh đưa ra ta không bỏ qua mà sẽ trả lời qua bài học ( câu hỏi nào chưa có trong nội dung bài ta cần khéo léo dẫn dắt để có kiến thức ở các bài ta sẽ trả lời cho các em).
- Trước giờ ta vẫn làm củng cố bài là phải nhắc lại nội dung kiến thức để các em nhớ được thì nay với PPBTNB sẽ là những thử thách mới để các em tìm tòi khám phá ở nhà cũng là bước chuẩn bị cho bài sau.
PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO DI LINH
TẬP HUẤN
PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”
Di Linh, ngày 23 tháng 1 năm 2014
I. Giới thiệu về Phương pháp Bàn tay nặn bột
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” (BTNB), tiếng Pháp là “La main à la pâte” - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là “Hands-on” là một phương pháp giáo dục tích cực, là một chiến lược về GD khoa học do Giáo sư người Pháp Georges Charpak (người đoạt Giải Nobel Vật lý năm 1992) sáng tạo cho phép đáp ứng những yêu cầu dạy học mới.
PP BTNB đã được vận dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Pháp mà còn ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có các nước ở khu vực Đông Nam Á.
Ở nước ta, BTNB được GS Trần Thanh Vân và tổ chức Gặp gỡ Việt Nam tổ chức giới thiệu hơn 10 năm qua.
Bộ GD&ĐT triển khai thử nghiệm từ năm 2011 và chính thức triển khai đại trà ở cấp Tiểu học và THCS từ năm học 2013 - 2014.
II. Thế nào là phương pháp “ Bàn tay nặn bột”?
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên. Thực hiện phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên. Trong đó học sinh được đặt vào vị trí của một nhà nghiên cứu, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.
II. Mục tiêu của PP “BTNB”
Phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp bàn tay nặn bột còn chú ý đến rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
III. Một số PP tiến hành thực nghiệm tìm tòi
nghiên cứu
1. PP quan sát:
* Quan sát là:
- Tìm câu trả lời cho câu hỏi đặt ra;
- Nhận thức bằng tất cả các giác quan;
- Tổ chức sự nghiên cứu một cách chặt chẽ và có phương pháp;
- Xác lập các mối quan hệ bằng cách so sánh với các mô hình, những hiểu biết và các đối tượng khác.
* Quan sát giúp HS phát triển các khả năng:
- Chặt chẽ trong nhìn nhận;
- Tò mò trước một sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh;
- Khách quan;
- Tinh thần phê bình;
- Nhận biết;
- So sánh;
- Chọn lọc những điểm chủ yếu, quan trọng và đặc trưng của sự
vật hiện tượng.
2. PP thí nghiệm trực tiếp: (PP TNTT)
- Đây là PP được khuyến khích thực hiện trong bước tiến hành thí nghiệm tìm tòi, nghiên cứu theo PP “BTNB”.
- PP TNTT được thực hiện đối với các kiến thức cần làm thí nghiệm để chứng minh. Các thí nghiệm do chính HS thực hiện. GV tuyệt đối không được thực hiện thí nghiệm biểu diễn như đối với các PP dạy học khác.
- Thí nghiệm trong PP “BTNB” được thực hiện để kiểm chứng một giả thuyết đặt ra chứ không phải là để khẳng định lại một kiến thức. VD: để kiểm tra giả thuyết: “Có phải không khí cần cho sự cháy không?” HS làm thí nghiệm úp cốc thuỷ tinh lên ngọn nến đang cháy để kiểm chứng.
3. PP làm mô hình:
- PP làm mô hình thường được tiến hành theo nhóm vì HS cần thảo luận với nhau để làm mô hình hợp lí.
- Mô hình đối với HS tiểu học chỉ nên thực hiện đơn giản nhằm làm rõ một kiến thức nhất định.
- Để tiết kiệm thời gian GV có thể chuẩn bị trước một mô hình đúng để trình bày cho HS so sánh trong trường hợp không có nhóm nào làm đúng. Trong trường hợp này GV cần giấu mô hình không cho HS nhìn thấy trước khi đưa ra trưng bày.
4. PP nghiên cứu tài liệu:
Khi cho HS tiến hành PP này, GV giúp HS xác định được:
Động cơ đọc tài liệu: tìm hiểu tổng quát, tìm hiểu chuyên sâu, tìm một định nghĩa, …
Vấn đề nào cần quan tâm.
Những thắc mắc đang cần tìm câu trả lời.
Kiểu thông tin nào đang cần có.
Vị trí cần đọc, nghiên cứu trong tài liệu.
10 NGUYÊN TẮC CỦA PHƯƠNG PHÁP BTNB
1. Treû em quan saùt moät söï vaät hay moät hieän töôïng cuûa theá giôùi thöïc taïi, gaàn guõi vôùi chuùng vaø deã caûm nhaän vaø chuùng thöïc haønh treân nhöõng caùi ñoù.
2. Trong quaù trình tìm hieåu, treû laäp luaän, baûo veä yù kieán cuûa mình, ñöa ra taäp theå thaûo luaän nhöõng yù nghó vaø nhöõng keát luaän cuûa mình, töø ñoù coù nhöõng hieåu bieát maø chæ hoaït ñoäng, thao taùc rieâng leû khoâng ñuû taïo neân.
3. Những hoạt động của giáo viên đề xuất cho học sinh nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và giành cho học sinh việc tự chủ khá lớn.
4. Cần một thời lượng tối thiểu là 2 giờ / tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập.
5. Trẻ có mỗi em một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ chính các em.
6. Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành , kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ nói và viết.
7. Các gia đình, khu phố nơi các em sinh sống khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học.
8. Ở địa phương các đối tác khoa học ( Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu…) giúp hoạt động của lớp theo khả năng của mình.
9. Ở địa phương, các Viện đào tạo giáo viên giúp các giáo viên kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy.
10. Giáo viên có thể tìm thấy trên Internet những mô đun (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải đáp thắc mắc. Họ cũng có thể tham gia những hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, các nhà sư phạm và các nhà khoa học. GV là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.
Cc bu?c c?a gi? h?c theo PP "Bàn tay nặn bột"
Bước 1: Đưa ra tình huống có vấn đề và xác định vấn đề cần giải quyết:
- Tình hu?ng xu?t pht hay tình hu?ng nu v?n d? l m?t tình hu?ng do gio vin ch? d?ng dua ra nhu l m?t cch h?p d?n nh?p vo bi h?c.
- Tình hu?ng xu?t pht ph?i ng?n g?n, g?n gui d? hi?u d?i v?i HS; nh?m l?ng ghp cu h?i nu v?n d?.
- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học; cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.
- GV dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề.
Bước 2: Bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh:
- Làm bộc lộ quan điểm hay biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của HS là
bước quan trọng đặc trưng của PPBTNB.
- Trong bước này, GV khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật hiện tượng mới (kiến thức mới) trước khi học được kiến thức đó. Khi yêu cầu HS trình bày quan niệm ban đầu, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiệnsuy nghĩ.
Bước 3: D? xu?t cu h?i hay gi? thuy?t v thi?t k? phuong n th?c hi?n:
D? xu?t cu h?i: T? nh?ng khc bi?t v phong ph v? bi?u tu?ng ban d?u c?a HS, GV gip HS d? xu?t cu h?i t? nh?ng khc bi?t dĩ.
Ch xốy su vo nh?ng s? khc bi?t lin quan d?n ki?n th?c tr?ng tm c?a bi h?c.
Đây là một bước khá khó khăn vì GV cần phải chọn lựa các biểu tượng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu tượng của HS một cách nhanh chóng theo mục đích dạy
học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của HS nhằm giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạy học.
- Sau khi chọn lọc các biểu tượng ban đầu của HS để ghi chép (đối với mô tả bằng lời) hoặc gắn hình vẽ lên bảng hoặc vẽ nhanh lên bảng (đối với hình vẽ), GV cần khéo léo gợi ý cho HS so sánh các điểm giống (đồng thuận giữa các ý kiến) hoặc khác nhau (không nhất trí giữa các ý kiến) các biểu tượng ban đầu.
-Từ những sự khác nhau cơ bản đó GV giúp HS đề xuất các câu hỏi. Sau khi giúp HS so sánh và gợi ý để HS phân nhóm các ý kiến ban đầu, GV hướng dẫn HS đặt các câu hỏi nghi vấn.
Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:
Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS đề nghị các em đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi có thể là: “Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra?”…
Sau khi HS đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.
Lưu ý rằng phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu ở đây được hiểu là các phương án để tìm ra câu trả lời. Có nhiều PP như quan sát, TH thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu, …
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi- nghiên cứu:
- Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu mà HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm thích hợp để HS tiến hành nghiên cứu.
- Khi tiến hành thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành. Sau đó GV phát cho HS các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với các hoạt động.
- Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, GV nên dừng lại để HS rút ra kết luận. GV lưu ý HS ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành.
Bước 5: Kết hợp và hợp thức hóa kiến thức.
- Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.
GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của HS cho kết luận sau khi thực nghiệm.
Vai trò của người giáo viên:
GV là người hướng dẫn:
- Đề ra những tình huống, những thử thách.
- Định hướng các hoạt động.
- Thu hẹp những cái có thể.
- Chỉ ra, thông tin.
GV là người trung gian:
- Là nhà trung gian giữa "thế giới" khoa học
và h?c sinh.
- Là người đàm phán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan với những câu hỏi được xử lí, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hình giải thích hợp lí.
- Đảm bảo sự dốn trước và giải quyết các xung đột nhận thức.
- Hành động bên cạnh với mỗi học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp.
Vai trò của học sinh trong giờ học với PPBTNB:
- HS quan sát một hiện tượng của thế giới thực tại và gần gũi với chúng về đề tài mà từ đó chúng sẽ hình thành các nghi vấn.
- HS tìm tòi, suy nghĩ và đề ra những bước đi cụ thể của thực nghiệm, hoặc chỉnh lí lại những caí thất bại nhờ tra cứu tư liệu.
- HS trao đổi và lập luận trong qu trình hoạt động, chúng chia sẻ với nhau những ý tưởng của mình, cọ sát những quan điểm của nhau và hình thành những kết luận tạm thời hoặc cuối cùng bằng ghi chép, biết phát biểu.
Vai trò của vở thực nghiệm:
Vở thực nghiệm không áp đặt cách ghi nhưng có mẫu sẽ thuận tiện cho các em trong việc ghi chép và đỡ mất thời gian của tiết h?c.
Có nhiều cách để ghi: có thể các em sẽ ghi bằng văn bản, bằng hình vẽ hoặc b?ng sơ đồ.
Những điều lưu ý:
Thực hiện dạy học theo phương pháp BTNB có nhiều hoạt động nhóm.
Sắp xếp lại bàn ghế theo nhóm cố định.
Giáo viên phải tạo được không khí lớp học vui vẻ, thoải mái, thích thú cho học sinh trong học tập.
Giúp học sinh bộc lộ quan điểm ban đầu:
- Quan điểm ban đầu của HS có thể sai hoặc chưa chính xác về mặt khoa học.
Khuyến khích HS trình bày ý kiến không nên có nhận xét đúng - sai sau khi học sinh trình bày.
Biểu tượng ban đầu càng đa dạng, phong phú, càng sai lệch với ý kiến đúng thì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho học sinh.
Đặt câu hỏi:
Có 2 loại câu hỏi chính: nêu vấn đề và câu hỏi gợi ý.
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học.
Các câu hỏi gợi ý được giáo viên đặt ra và sử dụng trong qua trình làm việc với học sinh nhằm gợi ý, định hướng cho các em rõ hơn hoặc kích thích một suy nghĩ mới của học sinh.
Hướng dẫn học sinh phân tích thông tin, hiện tượng quan sát khi nghiên cứu:
- Chú ý đến các thông tin chính để rút ra kết luận tương ứng với câu hỏi;
- Bám vào mục đích thí nghiệm để làm gì, trả lời câu hỏi nào...
- Đối với các thí nghiệm cần đo đạc, lấy số liệu, học sinh cần ghi chép lại các số liệu để từ đó rút ra nhận xét. Tôt nhất, giáo viên nên chuẩn bị mẫu ghi chú kết quả thí nghiệm và phát cho học sinh lúc bắt đầu làm thí nghiệm.
Những điều lưu ý( TT):
- Thực hiện phương pháp này không thể nóng vội, cần thực hiện từng bước để tạo thói quen cho học sinh lúc đó việc dạy học với PP BTNB sẽ dễ dàng và đem lại hiệu quả cao.
- Tất cả các câu hỏi của học sinh đưa ra ta không bỏ qua mà sẽ trả lời qua bài học ( câu hỏi nào chưa có trong nội dung bài ta cần khéo léo dẫn dắt để có kiến thức ở các bài ta sẽ trả lời cho các em).
- Trước giờ ta vẫn làm củng cố bài là phải nhắc lại nội dung kiến thức để các em nhớ được thì nay với PPBTNB sẽ là những thử thách mới để các em tìm tòi khám phá ở nhà cũng là bước chuẩn bị cho bài sau.
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất